The Mozart Effect

99,000

The Mozart Effect

99,000

  • Chúng tôi chấp nhận các phương thức thanh toán sau đây: Thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, PayPal, chuyển khoản ngân hàng và tiền mặt.
    Chúng tôi sẽ không thu thêm phí cho bất kỳ hình thức thanh toán nào.
  • Đối với sản phẩm có giá: Sau khi chúng tôi ghi nhận thông tin đã thanh toán sản phẩm của bạn, sản phẩm sẽ được mở khóa và bạn có thể xem trực tiếp và tải tài liệu sản phẩm.
  • Đối với thành viên trả phí: Bạn có thể mua và thanh toán sản phẩm với giá 0đ để tải tài liệu sản phẩm.
  • Bạn có thể liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ mở khóa sản phẩm sớm nhất.
  • Nếu bạn gặp vấn đề về sản phẩm của chúng tôi trong thời gian sử dụng, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ xử lý sớm nhất nhé.
Danh mục: Từ khóa: ,

Nội dung bài viết

The Mozart Effect

A     Music has been used for centuries to heal the body. In the Ebers Papyrus (one of the earliest medical documents, circa 1550 BC), it was recorded that physicians chanted to heal the sick (Castleman, 1994). In various cultures, we have observed singing as part of healing rituals. In the world of Western medicine, however, using music in medicine lost popularity until the introduction of the radio. Researchers then started to notice that listening to music could have significant physical effects. Therapists noticed music could help calm anxiety, and researchers saw that listening to music, could cause a drop in blood pressure. In addition to these two areas, music has been used with cancer chemotherapy to reduce nausea, during surgery to reduce stress hormone production, during childbirth, and in stroke recovery (Castleman, 1994 and Westley, 1998). It has been shown to decrease pain as well as enhance the effectiveness of the immune system. In Japan, compilations of music are used as medication of sorts. For example, if you want to cure a headache or migraine, the album suggested is Mendelssohn’s “Spring Song”, Dvorak’s “Humoresque”, or part of George Gershwin’s “An American in Paris” (Campbell, 1998). Music is also being used to assist in learning, in a phenomenon called the Mozart Effect.

B     Frances H. Rauscher, PhD, first demonstrated the correlation between music and learning in an experiment in 1993. His experiment indicated that a 10-minute dose of Mozart could temporarily boost intelligence. Groups of students were given intelligence tests after listening to silence, relaxation tapes, or Mozart’s “Sonata for Two Pianos in D Major” for a short time. He found that after silence, the average IQ score was 110, and after the relaxation tapes, the score rose a point. After listening to Mozart’s music, however, the score jumped to 119 (Westley, 1998). Even students who did not like the music still had an increased score in the IQ test. Rauscher hypothesised that “listening to complex, non-repetitive music, like Mozart’s, may stimulate neural pathways that are important in thinking” (Castleman, 1994).

C     The same experiment was repeated on rats by Rauscher and Hong Hua Li from Stanford. Rats also demonstrated enhancement in their intelligence performance. These new studies indicate that rats that were exposed to Mozart’s showed “increased gene expression of BDNF (a neural growth factor), CREB (a learning and memory compound), and Synapsin I (a synaptic growth protein) ” in the brain’s hippocampus, compared with rats in the control group, which heard only white noise (e.g. the whooshing sound of a V radio tuned between stations).

D     How exactly does the Mozart Effect work? Researchers are still trying to determine the actual mechanisms for the formation of these enhanced learning pathways. Neuroscientists suspect that music can actually help build and strengthen connections between neurons in the cerebral cortex in a process similar to what occurs in brain development despite its type.

When a baby is born, certain connections have already been made – like connections for heartbeat and breathing. As new information is learned and motor skills develop, new neural connections are formed. Neurons that are not used will eventually die while those used repeatedly will form strong connections. Although a large number of these neural connections require experience, they must also occur within a certain time frame. For example, a child born with cataracts cannot develop connections within the visual cortex. If the cataracts are removed by surgery right away, the child’s vision develops normally. However, after the age of 2, if the cataracts are removed, the child will remain blind because those pathways cannot establish themselves.

E     Music seems to work in the same way. In October of 1997, researchers at the University of Konstanz in Germany found that music actually rewires neural circuits (Begley, 1996). Although some of these circuits are formed for physical skills needed to play an instrument, just listening to music strengthens connections used in higher-order thinking. Listening to music can then be thought of as “exercise” for the brain, improving concentration and enhancing intuition.

F     If you’re a little sceptical about the claims made by supporters of the Mozart Effect, you’re not alone. Many people accredit the advanced learning of some children who take music lessons to other personality traits, such as motivation and persistence, which are required in all types of learning. There have also been claims of that influencing the results of some experiments.

G     Furthermore, many people are critical of the role the media had in turning an isolated study into a trend for parents and music educators. After the Mozart Effect was published to the public, the sales of Mozart CDs stayed on the top of the hit list for three weeks. In an article by Michael Linton, he wrote that the research that began this phenomenon (the study by researchers at the University of California, Irvine) showed only a temporary boost in IQ, which was not significant enough to even last throughout the course of the experiment. Using music to influence intelligence was used in Confucian civilisation and Plato alluded to Pythagorean music when he de- jj scribed its ideal state in The Republic. In both of these examples, music did not cause any overwhelming changes, and the theory eventually died out. Linton also asks, “If Mozart’s music were able to improve health, why was Mozart himself so frequently sick? If listening to Mozart’s music increases intelligence and encourages spirituality, why aren’t the world’s smartest and most spiritual people Mozart specialists?” Linton raises an interesting point, if the Mozart Effect causes such significant changes, why isn’t there more documented evidence?

H     The “trendiness’’ of the Mozart Effect may have died out somewhat, but there are still strong supporters (and opponents) of the claims made in 1993. Since that initial experiment, there has not been a surge of supporting evidence. However, many parents, after playing classical music while pregnant or when their children are young, will swear by the Mozart Effect.

A classmate of mine once told me that listening to classical music while studying will help with memorisation. If we approach this controversy from a scientific aspect, although there has been some evidence that music does increase brain activity, actual improvements in learning and memory have not been adequately demonstrated.

Questions 1-5: Which paragraph contains the following information?

  1. A description of how music affects the brain development of infants
  2. Public’s first reaction to the discovery of the Mozart Effect
  3. The description of Rauscher’s original experiment
  4. The description of using music for healing in other countries
  5. Other qualities needed in all learning

 Questions 6-8: Choose NO MORE THAN ONE WORD from the passage for each answer. 

During the experiment conducted by Frances Rauscher, subjects were exposed to the music for a 6………….….. period of time before they were tested. And Rauscher believes the enhancement in their performance is related to the 7…………..…, non-repetitive nature of Mozart’s music. Later, a similar experiment was also repeated on 8……………….

 Questions 9-13: TRUE / FALSE / NOT GIVEN  

  1. All kinds of music can enhance one’s brain performance to somewhat extent.
  2. There is no neural connection made when a baby is born.
  3. There are very few who question the Mozart Effect.
  4. Michael Linton conducted extensive research on Mozart’s life.
  5. There is not enough evidence in support of the Mozart Effect today.

 

Hiệu ứng Mozart

A     Âm nhạc đã được ứng dụng để chữa lành cơ thể trong nhiều thế kỷ. Trong Ebers Papyrus (một trong những tài liệu y khoa sớm nhất, khoảng năm 1550 trước công nguyên) có ghi lại rằng các thầy thuốc đã cầu kinh để chữa lành bệnh (Castleman, 1994). Ở nhiều nền văn hóa khác nhau, người ta đã quan sát thấy việc ca hát được dùng như một phần của các nghi lễ chữa bệnh. Tuy nhiên, trong thế giới y học phương Tây, việc sử dụng âm nhạc trong y học ít phổ biến cho đến khi radio ra đời. Các nhà nghiên cứu sau đó bắt đầu nhận thấy rằng âm nhạc có thể có những tác động đáng kể đến thể chất con người. Các chuyên gia trị liệu nhận thấy âm nhạc có thể giúp làm dịu bớt sự lo âu còn các nhà nghiên cứu nhận thấy nghe nhạc có thể giúp làm giảm huyết áp. Ngoài hai lĩnh vực trên, âm nhạc còn được sử dụng trong quá trình hóa trị liệu điều trị ung thư để giảm buồn nôn, trong phẫu thuật để giảm sự sản xuất hormone gây căng thẳng, trong khi sinh nở và phục hồi sau đột quỵ (Castleman, 1994 và Westley, 1998). Âm nhạc đã được chứng minh giúp giảm đau cũng như tăng cường hiệu quả của hệ thống miễn dịch. Ở Nhật Bản, các tuyển tập âm nhạc được sử dụng như một loại thuốc. Ví dụ nếu bạn muốn chữa đau đầu hoặc đau nửa đầu, album được đề xuất là “Spring Song” của Mendelssohn, “Humoresque” của Dvorak hoặc một phần “An American in Paris” (Campbell, 1998) của George Gershwin. Âm nhạc cũng được sử dụng để hỗ trợ học tập, qua một hiện tượng được gọi là Hiệu ứng Mozart.

B     Tiến sĩ Frances H. Rauscher đã lần đầu tiên chứng minh mối liên quan quan giữa âm nhạc và việc học tập trong một thí nghiệm vào năm 1993. Thí nghiệm của ông chỉ ra rằng một “liều” Mozart trong 10 phút có thể tạm thời tăng cường trí thông minh. Các nhóm sinh viên được cho kiểm tra trí thông minh sau khi nghe các đoạn ngắn im lặng, âm thanh thư giãn hoặc bản “Sonata for Two Pianos in D Major” của Mozart. Ông phát hiện ra rằng sau khi trải qua im lặng, điểm IQ trung bình là 110, và sau những đoạn thư giãn, điểm số đã tăng lên một điểm. Tuy nhiên, sau khi nghe nhạc của Mozart, điểm số đã tăng vọt lên 119 (Westley, 1998). Thậm chí cả những sinh viên không thích âm nhạc vẫn tăng điểm trong bài kiểm tra IQ. Rauscher đưa ra giả thuyết rằng “khi nghe loại nhạc phức tạp, không lặp lại, như của Mozart, có thể kích thích các dây thần kinh quan trọng cho việc suy nghĩ” (Castleman, 1994).

C    Thí nghiệm tương tự được lặp lại trên chuột bởi Rauscher và Hong Hua Li đến từ Stanford. Chuột cũng cho thấy rõ có sự cải thiện về khả năng trí tuệ của chúng. Các nghiên cứu mới này chỉ ra rằng những con chuột được tiếp xúc với nhạc của Mozart đã cho thấy “tăng biểu hiện gen  BDNF (hệ số tăng trưởng thần kinh), CREB (tổng hợp giữa học tập và ghi nhớ), và Synapsin I (một protein tăng trưởng tiếp hợp)” trong não của hà mã, so sánh với những con chuột trong nhóm đối chứng, chỉ nghe tiếng ồn trắng (white noise) (ví dụ như âm thanh nhiễu của sóng thu nằm giữa các kênh radio).

D     Chính xác thì hiệu ứng Mozart hoạt động như thế nào? Các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng xác định các cơ chế thực sự để hình thành các đường truyền dẫn cho khả năng học tập nâng cao này. Các nhà khoa học thần kinh nghi ngờ việc âm nhạc thực sự có thể giúp xây dựng và củng cố các kết nối giữa các tế bào thần kinh phần vỏ não nhờ một quá trình tương tự như những gì xảy ra với sự phát triển của trí não dù chúng thuộc loại nào.

Khi một đứa trẻ được sinh ra, một số kết nối nhất định đã được tạo lập – như kết nối nhịp tim và nhịp thở. Khi những thông tin mới được học và các kỹ năng vận động phát triển, các kết nối thần kinh mới được hình thành. Các tế bào thần kinh không được sử dụng sẽ chết đi trong khi những tế bào thần kinh được sử dụng nhiều lần sẽ hình thành các liên kết mạnh mẽ. Mặc dù một số lượng lớn các kết nối thần kinh này yêu cầu sự trải nghiệm, nhưng chúng cũng cần phải diễn ra trong một khung thời gian nhất định. Ví dụ, một đứa trẻ sinh ra bị đục thủy tinh thể sẽ không thể phát triển các kết nối bên trong vùng thị giác trên não. Nếu loại bỏ đục thủy tinh thể bằng phẫu thuật ngay lập tức, thị lực của trẻ sẽ phát triển bình thường. Tuy nhiên, nếu đục thủy tinh thể chỉ được loại bỏ sau 2 tuổi, trẻ sẽ vẫn bị mù do các đường truyền dẫn đó không thể tự hình thành.

E     Âm nhạc dường như hoạt động theo cách tương tự. Vào tháng 10 năm 1997, các nhà nghiên cứu tại Đại học Konstanz ở Đức đã phát hiện ra rằng âm nhạc thực sự thay đổi sơ đồ mạng lưới thần kinh (Begley, 1996). Mặc dù một số sơ đồ này được hình thành cho các kỹ năng vận động cần thiết để chơi một loại nhạc cụ, nhưng chỉ cần nghe nhạc cũng sẽ củng cố các kết nối được sử dụng trong tư duy bậc cao. Nghe nhạc có thể được coi là “bài tập thể dục” cho não, tăng cường sự tập trung và nâng cao trực giác.

F     Nếu bạn cảm thấy có chút nghi ngờ về những tuyên bố của những người ủng hộ Hiệu ứng Mozart, thì bạn không đơn độc. Nhiều người đánh giá khả năng học tập nâng cao của một số trẻ em theo học âm nhạc là nhờ các đặc điểm tính cách khác, chẳng hạn như động lực và tính kiên trì, vốn là điều cần có trong tất cả các hình thức học tập. Cũng đã có những công bố về các đặc điểm đó ảnh hưởng đến kết quả của một số thí nghiệm.

G     Hơn nữa, nhiều người chỉ trích vai trò của truyền thông trong việc biến một nghiên cứu độc lập thành một xu hướng cho các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục âm nhạc. Sau khi Hiệu ứng Mozart được công bố rộng rãi, doanh số bán đĩa CD của Mozart giữ vị trí đứng đầu xếp hạng bán chạy nhất trong ba tuần. Trong một bài báo của Michael Linton, ông viết rằng nghiên cứu khởi đầu cho hiện tượng này (của các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Irvine) chỉ cho thấy chỉ số IQ tăng tạm thời, thậm chí không đủ đáng kể để duy trì trong suốt quá trình thí nghiệm. Dùng âm nhạc để tác động đến trí thông minh đã được sử dụng trong Nho giáo và Plato đã ám chỉ đến âm nhạc của Pythagore khi ông viết phác thảo về nhà nước lý tưởng trong The Republic. Trong cả hai ví dụ này, âm nhạc không tạo ra bất kỳ thay đổi đột phá nào, và lý thuyết đó cuối cùng đã tàn lụi. Linton cũng đặt câu hỏi, “Nếu âm nhạc của Mozart có thể cải thiện sức khỏe, tại sao chính bản thân Mozart lại thường xuyên bị ốm như vậy? Nếu nghe nhạc của Mozart làm tăng trí thông minh và kích thích tinh thần, tại sao những người thông minh nhất và tâm lý tốt nhất thế giới lại không phải là chuyên gia về Mozart? ” Linton nêu lên một điểm thú vị, nếu Hiệu ứng Mozart tạo ra những thay đổi đáng kể như vậy, tại sao không có nhiều bằng chứng hơn được ghi nhận?

H     “Tính trào lưu” của Hiệu ứng Mozart có thể đã giảm đi phần nào, nhưng vẫn có những người ủng hộ mạnh mẽ (và cả những người phản đối) với những tuyên bố được đưa ra vào năm 1993. Kể từ thử nghiệm ban đầu đó, không có thêm các bằng chứng hỗ trợ nào rõ ràng. Tuy nhiên, nhiều bậc cha mẹ, sau khi mở nhạc cổ điển khi đang mang thai hoặc khi con họ còn nhỏ, rất tin tưởng Hiệu ứng Mozart.

Một người bạn cùng lớp của tôi từng nói với tôi rằng nghe nhạc cổ điển trong khi đang học sẽ giúp ích cho việc ghi nhớ. Nếu chúng ta tiếp cận cuộc tranh cãi này từ khía cạnh khoa học, cho dù đã có một số bằng chứng cho thấy âm nhạc làm tăng hoạt động của trí não, nhưng những cải thiện thực tế trong học tập và ghi nhớ vẫn chưa được biểu hiện một cách đầy đủ.

 

Câu hỏi 1-5: Đoạn nào chứa thông tin sau đây?

  1. Mô tả âm nhạc ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển trí não của trẻ sơ sinh
  2. Phản ứng đầu tiên của công chúng đối với sự khám phá ra Hiệu ứng Mozart
  3. Mô tả thử nghiệm ban đầu của Rauscher
  4. Mô tả việc sử dụng âm nhạc để chữa bệnh ở các nước khác
  5. Các phẩm chất cần thiết khác trong tất cả các hình thức học tập

 Câu hỏi 6-8: Chọn KHÔNG QUÁ MỘT TỪ trong bài đọc cho mỗi câu trả lời. 

Trong cuộc thử nghiệm do Frances Rauscher tiến hành, các đối tượng đã được tiếp xúc với âm nhạc trong khoảng thời gian 6 ……..………  trước khi họ được đánh giá. Và Rauscher tin rằng sự nâng cao hiệu suất của họ có liên quan đến 7 …….…… , bản chất không lặp lại trong âm nhạc của Mozart. Sau đó, một thí nghiệm tương tự cũng được lặp lại trên 8 ……………

 Câu hỏi 9-13: TRUE / FALSE / NOT GIVEN  

  1. Tất cả các thể loại âm nhạc có thể nâng cao hiệu suất trí não của con người ở một mức độ nào đó.
  2. Không có kết nối thần kinh nào được hình thành khi một đứa trẻ được sinh ra.
  3. Có rất ít người nghi ngờ về Hiệu ứng Mozart.
  4. Michael Linton đã tiến hành nghiên cứu sâu về cuộc đời của Mozart.
  5. Hiện tại không có đủ bằng chứng ủng hộ Hiệu ứng Mozart.

 

1. D 2. G 3. B 4. A 5. F 6. Short/ 10-minute 7. Complex
8. Rats 9. TRUE 10. FALSE 11. FALSE 12. NOT GIVEN 13. TRUE